b) Mương, ngòi, ao, hồ, giếng, đầm, chuôm:
Có mương Má Hòn, đuôi hồ,
đồng cỏ, đồng quan. Có ngòi con, ngòi Giăng, có hồ cạn, hồ Sen. Có ao
gừng, ao làng đính. Có giếng đính, giếng áo, giếng đình, giếng chùa,
giếng nghè. Có đầm Phù, đầm Linh, đầm Riềm. Có chuôm núi Bụt, chuôm đá
Thần, chuôm sau chùa, chuôm mô, chuôm na Thánh, chuôm đồng quan. Sau này
có thêm ao lội ( hồ ao lội ), hồ chân vịt, ao nàng Nấc.
c) Ruộng, đồng, gò, bãi, bờ, vườn:
Có
đồng cây Mai, đồng cây Sộp, đồng cây kháo ( na Khao), đồng mả gầu
(nabaau), đồng na Thánh, đồng quan, đồng cỏ, đồng cầu và còn nhiều dộc
ruộng mang tên của từng chi tộc .Có bãi chè Lý Ba-cụ tổng Bành, đồi trám
của cha con cụ cai Luân, gò chè cụ tổng Sâm ( cụ tổng Thảo ), bãi chè
cụ phó Nhuận ( cụ Dương Đức Trạch ), vườn trầu cau của các cụ trong dòng
tộc thì nhiều ( có gọi : làng cau), bờ bụi tre ngà vầu nứa rất phong
phú đa dạng, nhiều loài chim cư trú.
e) Lối đi ( mã lộ, tiểu lộ) , cầu cống : (còn tiếp)
Một Tộc Họ sống lâu đời trên đất Làng Thông, tổng Huống Thượng từ triều đại nhà Lê, qua nhà Mạc rồi nhà Nguyễn, theo di ngôn từ cổ tới kim : Người dân từ Hưng Yên tới Hải Dương ( Thanh Hà ) , Kim Anh - Phủ Bình - Và cuối cùng con lưu truyền thờ cúng người lập làng Linh Thông ( Khởi Tổ ) cho tới nay 2019 , còn giữ được là 13 đời , thời gian trên 300 năm !
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét