Nhóm câu lạc bộ người cao tuổi xóm Thông, xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên thực hiện trong ngày tổng kết công tác của chi hội năm 2013 .
Một Tộc Họ sống lâu đời trên đất Làng Thông, tổng Huống Thượng từ triều đại nhà Lê, qua nhà Mạc rồi nhà Nguyễn, theo di ngôn từ cổ tới kim : Người dân từ Hưng Yên tới Hải Dương ( Thanh Hà ) , Kim Anh - Phủ Bình - Và cuối cùng con lưu truyền thờ cúng người lập làng Linh Thông ( Khởi Tổ ) cho tới nay 2019 , còn giữ được là 13 đời , thời gian trên 300 năm !
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tộc Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tộc Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013
Anh hãy về thăm quê Em
Nhóm câu lạc bộ người cao tuổi xóm Thông, xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên thực hiện trong ngày tổng kết công tác của chi hội năm 2013 .
Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013
Cho một ngày mới ( 2010 )
Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013
Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013
Tịnh Tâm - Kinh Phật
Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013
Em đi Chùa Hương - Hà Đông
Chùa Hương không tới một lần,
Thì buồn cho cảnh tu phần quanh năm,
Anh thương anh tới lễ chùa,
Cho em có được ' Cái vừa lòng em ' .
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương,
Việt Nam
Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013
Phố Tôi
Sinh hoạt tất niên của hẻm 74
Khu phố V, Tân Thành, Tân Phú, tp Hồ Chí Minh
( Điệu hò lơ, dân ca Bắc bộ, cùng hò vui )
Khu phố V, Tân Thành, Tân Phú, tp Hồ Chí Minh
( Điệu hò lơ, dân ca Bắc bộ, cùng hò vui )
Phố Tôi
Ai qua lối hẻm bảy tư,
Đường thông hè thoáng còn gì vui hơn,
Thuận tình họ biết bảo nhau,
Giữ gìn trật tự an ninh yên bình .
***
Ai ơi qua lối hẻm này,
Giúp em xếp vải dệt may tháng ngày,
Thuận tình em trả công cho,
Nâng khăn sửa túi đẹp vừa lòng nhau .
***
Xuân về đẹp quá mình ơi,
Mai vàng, Lan tím sắc Xuân đầy nhà,
Chúc anh, chúc chị, chúc bà,
Chúc sang năm mới thuận đà đi lên !
Xuân Quý Tỵ ( 2013 )
( tác giả : Dương Dức Cảnh Doanh )
Lễ hội Làng Thông
Con cháu tộc Dương xóm Thông ( Linh Tùng xưa ) làm lễ khánh thành nhà văn hóa và ra mắt câu lạc bộ văn nghệ ( Con cháu đời thứ 10 + 11 + 12 ) xóm Thông, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam .
Lễ hội Làng Thông
Con cháu tộc Dương làm lễ khánh thành nhà văn hóa và ra mắt câu lạc bộ văn nghệ ( Văn hóa tộc Dương ở đời thứ 10 + 11 + 12 ), xóm Thông, xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên, quốc gia Việt Nam .
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Lễ hội ở Làng Thông
Dù ai ra Bắc vào Nam,
Sang Miên, sang Thái, sang Lào đi đâu,
Dù cho ngụ tận nơi nào,
Nhớ ngày giỗ Tổ rủ nhau mà về !
( Quốc Tổ , Đình Tổ và Gia Tổ )
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013
Nhớ về chợ Thái
Khi xưa ta bé ta thơ, ta đi theo Mẹ mong chờ mua kem, kem ăn mút mút sao thèm, kem tan rơi xuống đất sàn ôi thôi ! ... Mất ăn !
Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013
Giao lưu văn nghệ của xóm Thông
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Giao lưu văn nghệ của xóm Thông
Đêm giao lưu văn nghệ mừng khánh thành nhà văn hóa xóm Thông
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Giao lưu văn nghệ của xóm Thông
Đêm giao lưu văn nghệ chúc mừng khánh thành nhà văn hóa xóm Thông
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Giao lưu văn nghệ của xóm Thông
Đêm văn nghệ chào mừng khánh thành nhà văn hóa xóm Thông
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013
Gia phả tộc Dương - Ông Tự Pháp Hậu - xóm Thông
Ông Tự Pháp Hậu ( Dương Văn Hậu )
Category: Giáo dục nhân văn, Tag: Cội nguồn tộc DươngÔng Dương,Đồng Hỉ,Huống Thượng,Thái Nguyên
09/24/2012 09:51 am
Em trai của ông là :
1/ Tự Phúc Khái ( Dương Văn Khái ) sinh ....., mất 7 tháng12 âm, mộ gò chè ông tổng Thảo-mân xôi đình làng Thông, nay ( 2012 ) con cháu ông phó Nhuận ( Dương Đức Trạch ) trông coi, thờ cúng .
2/ Tự Trực Y ( Dương Văn Y ) sinh...., mất 15 tháng 1 âm , tại sông Sỏi, tỉnh Bắc Giang ( do đi phu ), được chú Dương Văn Thạnh ( cụ phó đồ ) chôn cất và có làm lễ gọi hồn về, tạo dựng mộ giả tại gò trẩu nơi bờ rào nhà ông Lục bà Hải ngày nay .
Em gái của ông là :
1/ Hiệu Diệu Nghiêm , sinh...., mất 8 tháng 10 âm, không chồng, không con .
2/ Hiệu Diệu Mận sinh ....., mất 29 tháng 1 âm , không chồng, không con .
3/ Hiệu Diệu Chinh sinh ....., mất ......., lấy chồng đất Lịch Sơn, Ma Hiên ( La Hiên ), Đình Cả, Thái Nguyên , vào thời chạy loạn giặc cỏ, giặc đỏ ( Tây Sơn ), sau bà không về làng mà ở lại đất Lịch Sơn, Võ Nhai, Thái Nguyên , sinh tạo chi ngoại tộc Dương Lịch Sơn .
4/ Hiệu Diệu Côn sinh ....., mất ....., lấy chồng trong làng, sinh hai ( 2 ) người con : Bà Thư, lấy chồng ở xóm Bầu, sinh tạo chi ông Lý Miêng ; ông Thục lấy bà Nguyễn Thị Lan người xóm Già, tạo sinh chi ông tổng Thảo xóm Thông, Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên . Hiện nay con cháu rất đông, mồ mả tổ tiên do chi ông tổng Thảo thờ cúng .
5/ Hiệu Diệu Mấn sinh ....., mất ......, lấy chồng trong làng, sinh tạo chi dòng ông Hương- Hội ( ông phó Ngữ ), nay ( 2012 ) ông Dương Văn Lộc ( con ông em ) và vợ là bà Thức chăm sóc mồ mả, thờ cúng tổ tiên , con cháu của cụ rất đông, xa gần đều có : ( Dung, Quang, Vinh, Minh, Hiền, Hòa )....
Ông Tự Pháp Hậu có con trai là Tự Pháp Nhu ( Dương Văn Nhu ), ông và bà sinh được người con gái là bà Hiệu Diệu Đồng, bà lấy chồng người xóm Sộp về làm rể họ Dương ( mang họ Dương ) và sinh nhiều người con :
1/ Bà Dương Thị Hồi lấy ông Lầm người xóm Đảng, Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên ( con : Toàn...)
2/ Ông Dương Văn Hương ( ông cửu Hương ) lấy bà Lương Thị Tắc người Đồng Mô ( các con : Hinh, Ninh, Bính, Ngọ, Mùi )
3/ Bà Dương Thị Huệ lấy ông Trương Quốc Lộc người xóm Sộp ( các con : Tài, Cảnh, Tùng, Kế, Bách )
4/ Bà Vân lấy ông Tước người .....?....( con : Long, Cổn, Xuân ...)
5/ Bà Khuy lấy ông Tỉnh con trai thứ của cụ Dương Văn Giới, con nuôi của cụ Dương Đức Hiệt ( ông Giới người chợ Bầu, tỉnh Bắc Ninh ) ( các con : Phố, Thụy, Phượng, Loan, Thanh, Truyền )
6/ Bà Tý Méo lấy ông Năng người xã Đồng Tâm, chồng lần thứ hai là ông Quai, sau thường gọi ông bà Quai ( các con :.....?....)
Con cháu của ông bà Tự Pháp Hậu, kể tính vào đời thứ năm ( 5 ) hiện còn cư ngụ trong làng Thông và ra ngoài mưu sinh :
như :
1/ Dương Văn Hinh lấy bà Tuất người xóm Đảng, sinh sống tại làng Thông, Huống Thượng .
2/ Dương Thị Ninh lấy chồng ông Lập về sinh sống tại Hải Phòng.
3/ Dương Thị Bính lấy chồng, sinh sống tại Hải Phòng
4/ Dương Văn Ngọ lấy vợ , sinh sống tại Hà Nội .
5/ Dương Văn Mùi ( Hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ )
Thờ cúng tổ tiên chi dòng này do con cháu ông Dương Văn Hinh là DƯơng Văn Hợi ; Dương Văn Lợi ...trông coi mồ mả, lập phả hệ .
Trang phả này cần bổ sung cho hoàn thiện và tiếp tục .
Biên tập : Dương Đức Cảnh Doanh, cử nhân khoa học xã hội, cử nhân tiếng Trung quốc đại lục, huyền tôn tộc Dương ( đời thứ 10 ), xóm Thông, Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên .
Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh năm Canh Dần ( 2010 )
Xã Huống Thượng - Giáo dục -Theo dòng sự kiện
9/ Theo dòng sự kiện
Category: , Tag: Huống Thượng Quê Hương Tôi_Nh
12/07/2012 08:23 am
( Một đất nước thuần nông, một xã thuần nông, nền giáo dục luận lý nho
giáo, triết học phương đông =>luận lý phương tây, thuyết phát triển,
triết Mac )
Đã khơi dậy cho xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên hình thành một đội ngũ tri thức ngày một phát triển, và ngày càng lớn mạnh .
Theo dòng sự kiện là tiếp cho câu chuyện : Giáo dục của xã Huống Thượng .
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất, nhân dân hai miền xum họp một nhà . Giáo dục xã Huống Thượng tiếp bước, chuyển sang giai đoạn mới, từ năm 1975-1981, riêng cấp I đã lên tới 18 lớp học với 740 học sinh, thày, cô giáo có :Ông Nghi, ông Hiệp, ông Nguyên, cô Mịn, cô Hồng, cô Chấn, cô Dung, cô Mai, cô Nhạn, cô Lê, cô Nhâm, cô Thuyết, cô Lịch, cô Năm. Cấp II có 10 lớp với 410 học sinh, các thày, cô giáo như : Ông Tú, cô Thúy, cô Bình, cô Tơ, cô Uyên, cô Tâm, ông Lữ, cô Loan, cô Lộc, cô Sơn, cô Khánh, cô Xuân, cô Thịnh, cô Liên, cô Hương, cô Yến, cô Thủy, cô Hòa, ông Khang ( 19 giáo viên ), trường lớp Huống Thượng đã phát triển tới 28 lớp với 1150 học sinh, cơ sở vật chất cũng được tăng thêm, 10 phòng học được xây chắc chắn bằng gạch ngói .Cấp I có 19 lớp với 750 học sinh, giáo viên có ông Nghi, cô Hiền, cô Vân, cô Sơn, cô Thiệp, cô Thư, cô Nhạn, cô Giá, cô Hồng, cô Dung, cô Thái, cô Phương, cô Nên, cô Yến, cô Thảo, cô Lịch, cô Giảng, cô Lập, cô Xuân, cô Mùi . Cấp II có 10 lớp với 428 học sinh, giáo viên như : ông Bình, ông Tú, cô Lộc, cô Lan, ông Lữ, cô Tuyết, cô Hòa, cô Thịnh, cô Uyên, cô Yến, cô Nga, cô Hòa ( B ), cô Bình, ông Hợp, cô Tryền, cô Ngọc, cô Liên, cô Thúy .
Giáo dục xã Huống Thượng lớn mạnh, tới năm 1985-1986 có 29 lớp với 1178 học sinh . Những năm học tiếp theo này, kinh tế có khó khăn, phần nào ảnh hưởng tới tinh thần dạy và học . Năm học 1986-1991 có tới hai hiệu trưởng : Ông Đảo; Ông Giảng, tới năm 1992-1993 cô Thúy được cấp trên cử làm hiệu trưởng, cô tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, xây dựng thêm được 2 nhà ngói mới, có 4 phòng học, đủ cho 422 học sinh, 22 thày, cô giáo như : Cô Hòa, cô Bình ( B ), cô Tuyết, cô Lan, cô Ngọc, cô Hậu, cô Bình, cô Liên ( A ), cô Bằng, cô Nga, cô Liên ( B ), cô Phương, cô Phong, cô Thanh, cô Liên ( C ), cô Thúy, cô Hồng, cô Lạng, cô Hường, cô Tĩnh .Thời gian này nhà trường có sự chuyển dịch mạnh mẽ, học sinh đi thi học sinh giỏi cấp Huyện, giáo viên bình xét dạy giỏi như : Cô Đặng Thị Tuyết, Phan Bích Nga, Trần Kim Bằng, Nguyễn Thị Liên, Lê Kim Thanh, Dương Thị Hòa, Lê Trinh Yến . Ở cấp I có cô : Nguyễn Thị Nên, Nguyễn Thị Sơn, Nguyễn Thanh Hằng, Trần Thị Định .
Năm học 1993-1994, khối cấp I, II tách riêng, hoạt động độc lập, và đống thời cùng với sự hoạt động của khối mẫu giáo dần hình thành, tạo nên hệ thống trường học từ nhỏ tới lớn . Đến nay trên 60 năm ( 1945-2008 ), nhân dân xã Huống Thượng, từ nhóm học tập, phong trào bảo nhau đi học, phong trào nâng cao tri thức, nâng cao đội ngũ cốt cán các thày giáo, cô giáo, học sinh tích cực tham gia học tập, dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, xã Huống Thượng đã có hệ thống trường lớp học tổ chức chặt chẽ : Trường mầm non, mẫu giáo ; Trường tiểu học phổ thông ; Trường trung học cơ sở và các hội tri thức khoa học hoạt động, trao đổi kiến thức nghề nghiệp nhằm tăng hiệu suất lao động . Đời sống vật chất, tinh thần nhân dân trong xã ngày một nâng cao .
Từ tư liệu : ' Gia tài của bố - Dương Đức Nguyên, nguyên là cán bộ giáo dục cách mạng của ty giáo dục Thái Ngyên .
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh , huyền huyền tôn tộc Dương, xã Huống Thượng .
Năm Canh Dần ( 2010 )
Đã khơi dậy cho xã Huống Thượng, huyện Đồng Hỉ, tỉnh Thái Nguyên hình thành một đội ngũ tri thức ngày một phát triển, và ngày càng lớn mạnh .
Theo dòng sự kiện là tiếp cho câu chuyện : Giáo dục của xã Huống Thượng .
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất, nhân dân hai miền xum họp một nhà . Giáo dục xã Huống Thượng tiếp bước, chuyển sang giai đoạn mới, từ năm 1975-1981, riêng cấp I đã lên tới 18 lớp học với 740 học sinh, thày, cô giáo có :Ông Nghi, ông Hiệp, ông Nguyên, cô Mịn, cô Hồng, cô Chấn, cô Dung, cô Mai, cô Nhạn, cô Lê, cô Nhâm, cô Thuyết, cô Lịch, cô Năm. Cấp II có 10 lớp với 410 học sinh, các thày, cô giáo như : Ông Tú, cô Thúy, cô Bình, cô Tơ, cô Uyên, cô Tâm, ông Lữ, cô Loan, cô Lộc, cô Sơn, cô Khánh, cô Xuân, cô Thịnh, cô Liên, cô Hương, cô Yến, cô Thủy, cô Hòa, ông Khang ( 19 giáo viên ), trường lớp Huống Thượng đã phát triển tới 28 lớp với 1150 học sinh, cơ sở vật chất cũng được tăng thêm, 10 phòng học được xây chắc chắn bằng gạch ngói .Cấp I có 19 lớp với 750 học sinh, giáo viên có ông Nghi, cô Hiền, cô Vân, cô Sơn, cô Thiệp, cô Thư, cô Nhạn, cô Giá, cô Hồng, cô Dung, cô Thái, cô Phương, cô Nên, cô Yến, cô Thảo, cô Lịch, cô Giảng, cô Lập, cô Xuân, cô Mùi . Cấp II có 10 lớp với 428 học sinh, giáo viên như : ông Bình, ông Tú, cô Lộc, cô Lan, ông Lữ, cô Tuyết, cô Hòa, cô Thịnh, cô Uyên, cô Yến, cô Nga, cô Hòa ( B ), cô Bình, ông Hợp, cô Tryền, cô Ngọc, cô Liên, cô Thúy .
Giáo dục xã Huống Thượng lớn mạnh, tới năm 1985-1986 có 29 lớp với 1178 học sinh . Những năm học tiếp theo này, kinh tế có khó khăn, phần nào ảnh hưởng tới tinh thần dạy và học . Năm học 1986-1991 có tới hai hiệu trưởng : Ông Đảo; Ông Giảng, tới năm 1992-1993 cô Thúy được cấp trên cử làm hiệu trưởng, cô tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, xây dựng thêm được 2 nhà ngói mới, có 4 phòng học, đủ cho 422 học sinh, 22 thày, cô giáo như : Cô Hòa, cô Bình ( B ), cô Tuyết, cô Lan, cô Ngọc, cô Hậu, cô Bình, cô Liên ( A ), cô Bằng, cô Nga, cô Liên ( B ), cô Phương, cô Phong, cô Thanh, cô Liên ( C ), cô Thúy, cô Hồng, cô Lạng, cô Hường, cô Tĩnh .Thời gian này nhà trường có sự chuyển dịch mạnh mẽ, học sinh đi thi học sinh giỏi cấp Huyện, giáo viên bình xét dạy giỏi như : Cô Đặng Thị Tuyết, Phan Bích Nga, Trần Kim Bằng, Nguyễn Thị Liên, Lê Kim Thanh, Dương Thị Hòa, Lê Trinh Yến . Ở cấp I có cô : Nguyễn Thị Nên, Nguyễn Thị Sơn, Nguyễn Thanh Hằng, Trần Thị Định .
Năm học 1993-1994, khối cấp I, II tách riêng, hoạt động độc lập, và đống thời cùng với sự hoạt động của khối mẫu giáo dần hình thành, tạo nên hệ thống trường học từ nhỏ tới lớn . Đến nay trên 60 năm ( 1945-2008 ), nhân dân xã Huống Thượng, từ nhóm học tập, phong trào bảo nhau đi học, phong trào nâng cao tri thức, nâng cao đội ngũ cốt cán các thày giáo, cô giáo, học sinh tích cực tham gia học tập, dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, xã Huống Thượng đã có hệ thống trường lớp học tổ chức chặt chẽ : Trường mầm non, mẫu giáo ; Trường tiểu học phổ thông ; Trường trung học cơ sở và các hội tri thức khoa học hoạt động, trao đổi kiến thức nghề nghiệp nhằm tăng hiệu suất lao động . Đời sống vật chất, tinh thần nhân dân trong xã ngày một nâng cao .
Từ tư liệu : ' Gia tài của bố - Dương Đức Nguyên, nguyên là cán bộ giáo dục cách mạng của ty giáo dục Thái Ngyên .
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh , huyền huyền tôn tộc Dương, xã Huống Thượng .
Năm Canh Dần ( 2010 )
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Xã Huống Thượng-Những người con quang vinh ( tiếp theo )
8/ Những người con quang vinh ( tiếp theo )
Category: Giáo dục nhân văn, Tag: Huống Thượng Quê Hương Tôi_Nh
11/01/2012 07:51 am
* Gia tài của Bố-Những người con quang vinh
* Từ một xã thuần nông với mấy ông đồ nho có chữ tới hội những ông đồ, rồi chẳng bao lâu phải nhường chỗ cho chữ quốc ngữ phát triển như ngày nay.
----------------------------------------
Những người con quang vinh ( tiếp theo )
-Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 3 từ năm 1971-1975, cách mạng toàn quốc vững mạnh, xã Huống Thượng cũng đã đóng góp của cải và sức người cho chiến tranh. Văn hóa giáo dục tập trung nhiều trong khâu thông tin tuyên truyền như : Ca, múa, hát, chiếu phim. Vệ sinh y tế cho học sinh được quan tâm.
-Năm học 1972-1973-1974-1975, Hiệu trưởng là ông Cao Xuân Hiệp, cấp I có 18 lớp với 730 học sinh ( học sinh giảm bởi xã Linh Sơn và xã Nam Hòa mở trường, học sinh rút về ), giáo viên có : Cô Lập, cô Mai, cô Giảng, cô Hiền, cô Hồng, cô Chấn, cô Lịch, cô Nhạn, cô Lê, cô Nhâm, cô Thuyết, cô Dung, cô Tâm, cô Thảo, cô Mịn, ông Mười, ông Nguyên, ông Nghi...( 18 gv ). Về mặt cơ sở vật chất, đã dựng được 2 nhà lợp ngói với 4 phòng học, trong đó có một nhà kiểu tiện lợi cho hội họp, thao giảng, vườn hoa, sân trường, cầu tiêu, giếng nước, nhà cho giáo viên cũng được xây dựng, đưa vào sử dụng tăng cảnh quan cho trường học. Tại khu trường cho học sinh cấp II cũng được nâng cấp, xây dựng khang trang, thoáng mát, sạch đẹp. Vườn thực nghiệm, sân thể dục hoạt động tốt. Vào cuối năm 1972, cắt trả số học sinh cấp II về cho xã Linh Sơn và xã Nam Hòa, số lớp và học sinh giảm. Bà Dương Thúy Châu làm hiệu trưởng, các giáo viên cộng tác như : Ông Đảng, ông Khang, ông Tú, cô Thái, ông Lộc, cô Lan, cô Bình, cô Chuyền, cô Loan, cô Loan ( B ), cô Hà, cô Thúy, cô Oanh, cô Hòa, cô Tơ, cô Giao, ông Thành ( 17 gv ).
-Năm học 1972-1973, 1974-1975 Phong trào thày dạy giỏi cấp huyện, trò học giỏi thi đỗ lấy giải, gương sáng như thày Lã Quý Đảng, cô Nguyễn Thị Nga.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thày cô cốt cán được đào tạo gửi đi học và về phát triển, có cô : Dương Thúy Châu, thày Nguyễn Đình Thành; học sinh tham gia đội dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ do ông Lê Quang Vinh làm đại đội trưởng, đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua như : Trần Văn Rụ; Liệt sĩ chống Pháp có 5, 18 cán bộ hưu, 1 bệnh nghề, 2 quân nhân tai nạn lao động, 19 bệnh binh, 38 thương binh, 94 gia đình liệt sĩ, văn bằng 101 liệt sĩ, một mẹ Việt Nam anh hùng : Nguyễn Thị Khánh.Tinh thần ham học, ý chí vươn lên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ quan lớn mạnh; Năm 1948, 1949, 1950 cưu mang che chở trường giáo dục sư phạm Trung Ương hoạt động tại địa phương, và năm 1966-1967-1968-1969-1970, trường phổ thông cấp III Đồng Hỉ đóng tại khu đồi 3 xã ( xã Huống Thượng, xã Linh Sơn, xã Nam Hòa ). Trường lớp học từ chỗ học sinh nghèo, thất học đến giai đoạn nhiều học sinh, nhiều lớp học, nhiều thày, nhiều cô; Các cấp học được nâng cao, đồng nghĩa với con người tri thức, trí tuệ ngày một mở rộng và chuyên sâu. Tính đến năm 1980-1981, cấp I có tới 18 lớp với 740 học sinh, cấp II có 10 lớp với 410 học sinh. Học sinh đi học trong xã ngày một tăng cao so với năm trước. Năm học 1995-1996 đã có tới 24 lớp với 769 học sinh ở cấp I, tiếp theo sau là hệ thống mẫu giáo, mầm non cũng tổ chức và phát triển mạnh. Đến thời điểm này tiểu học và trung học phổ thông cơ sở đã có tới 58 giáo viên và 1185 học sinh .
Năm mươi năm qua văn hóa giáo dục từ những con người hiếu học, luôn luôn tìm tòi và phát triển, kết quả là nâng cao tầm nhìn xã hội, góp công sức vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm mà trực tiếp gần đây là 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cuối cùng đem lại sự phồn vinh, vinh quang cho dân tộc, một đất nước người không đông, đất không rộng đã làm nên cuộc cách mạng thần kỳ, đem lại kết quả thắng lợi mỹ mãn cho toàn dân tộc. Những con người Huống Thượng quê hương tôi vươn lên là thế của hôm qua và hôm nay, đồng thời tiếp tục vươn xa ở ngày mai hơn nữa .
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 2 năm 2010
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh
Tư liệu : Gia tài của bố-Dương Đức Nguyên, nguyên cán bộ phòng ban giáo dục huyện, tỉnh Thái Nguyên
--------------------------------------
* Gia phả tộc Dương, cội nguồn tộc Dương, Linh Thông, Linh Tùng, Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên, Cảnh Doanh
Địa chỉ ViDEO xã Huống Thượng :' Youtube.com/canhdoanh ' hoặc từ khóa : ' cội nguồn tộc Dương Linh tùng Huống Thượng Đồng Hỉ-cảnh doanh '.
* Từ một xã thuần nông với mấy ông đồ nho có chữ tới hội những ông đồ, rồi chẳng bao lâu phải nhường chỗ cho chữ quốc ngữ phát triển như ngày nay.
----------------------------------------
Những người con quang vinh ( tiếp theo )
-Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 3 từ năm 1971-1975, cách mạng toàn quốc vững mạnh, xã Huống Thượng cũng đã đóng góp của cải và sức người cho chiến tranh. Văn hóa giáo dục tập trung nhiều trong khâu thông tin tuyên truyền như : Ca, múa, hát, chiếu phim. Vệ sinh y tế cho học sinh được quan tâm.
-Năm học 1972-1973-1974-1975, Hiệu trưởng là ông Cao Xuân Hiệp, cấp I có 18 lớp với 730 học sinh ( học sinh giảm bởi xã Linh Sơn và xã Nam Hòa mở trường, học sinh rút về ), giáo viên có : Cô Lập, cô Mai, cô Giảng, cô Hiền, cô Hồng, cô Chấn, cô Lịch, cô Nhạn, cô Lê, cô Nhâm, cô Thuyết, cô Dung, cô Tâm, cô Thảo, cô Mịn, ông Mười, ông Nguyên, ông Nghi...( 18 gv ). Về mặt cơ sở vật chất, đã dựng được 2 nhà lợp ngói với 4 phòng học, trong đó có một nhà kiểu tiện lợi cho hội họp, thao giảng, vườn hoa, sân trường, cầu tiêu, giếng nước, nhà cho giáo viên cũng được xây dựng, đưa vào sử dụng tăng cảnh quan cho trường học. Tại khu trường cho học sinh cấp II cũng được nâng cấp, xây dựng khang trang, thoáng mát, sạch đẹp. Vườn thực nghiệm, sân thể dục hoạt động tốt. Vào cuối năm 1972, cắt trả số học sinh cấp II về cho xã Linh Sơn và xã Nam Hòa, số lớp và học sinh giảm. Bà Dương Thúy Châu làm hiệu trưởng, các giáo viên cộng tác như : Ông Đảng, ông Khang, ông Tú, cô Thái, ông Lộc, cô Lan, cô Bình, cô Chuyền, cô Loan, cô Loan ( B ), cô Hà, cô Thúy, cô Oanh, cô Hòa, cô Tơ, cô Giao, ông Thành ( 17 gv ).
-Năm học 1972-1973, 1974-1975 Phong trào thày dạy giỏi cấp huyện, trò học giỏi thi đỗ lấy giải, gương sáng như thày Lã Quý Đảng, cô Nguyễn Thị Nga.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thày cô cốt cán được đào tạo gửi đi học và về phát triển, có cô : Dương Thúy Châu, thày Nguyễn Đình Thành; học sinh tham gia đội dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ do ông Lê Quang Vinh làm đại đội trưởng, đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua như : Trần Văn Rụ; Liệt sĩ chống Pháp có 5, 18 cán bộ hưu, 1 bệnh nghề, 2 quân nhân tai nạn lao động, 19 bệnh binh, 38 thương binh, 94 gia đình liệt sĩ, văn bằng 101 liệt sĩ, một mẹ Việt Nam anh hùng : Nguyễn Thị Khánh.Tinh thần ham học, ý chí vươn lên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ quan lớn mạnh; Năm 1948, 1949, 1950 cưu mang che chở trường giáo dục sư phạm Trung Ương hoạt động tại địa phương, và năm 1966-1967-1968-1969-1970, trường phổ thông cấp III Đồng Hỉ đóng tại khu đồi 3 xã ( xã Huống Thượng, xã Linh Sơn, xã Nam Hòa ). Trường lớp học từ chỗ học sinh nghèo, thất học đến giai đoạn nhiều học sinh, nhiều lớp học, nhiều thày, nhiều cô; Các cấp học được nâng cao, đồng nghĩa với con người tri thức, trí tuệ ngày một mở rộng và chuyên sâu. Tính đến năm 1980-1981, cấp I có tới 18 lớp với 740 học sinh, cấp II có 10 lớp với 410 học sinh. Học sinh đi học trong xã ngày một tăng cao so với năm trước. Năm học 1995-1996 đã có tới 24 lớp với 769 học sinh ở cấp I, tiếp theo sau là hệ thống mẫu giáo, mầm non cũng tổ chức và phát triển mạnh. Đến thời điểm này tiểu học và trung học phổ thông cơ sở đã có tới 58 giáo viên và 1185 học sinh .
Năm mươi năm qua văn hóa giáo dục từ những con người hiếu học, luôn luôn tìm tòi và phát triển, kết quả là nâng cao tầm nhìn xã hội, góp công sức vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm mà trực tiếp gần đây là 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cuối cùng đem lại sự phồn vinh, vinh quang cho dân tộc, một đất nước người không đông, đất không rộng đã làm nên cuộc cách mạng thần kỳ, đem lại kết quả thắng lợi mỹ mãn cho toàn dân tộc. Những con người Huống Thượng quê hương tôi vươn lên là thế của hôm qua và hôm nay, đồng thời tiếp tục vươn xa ở ngày mai hơn nữa .
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 2 năm 2010
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh
Tư liệu : Gia tài của bố-Dương Đức Nguyên, nguyên cán bộ phòng ban giáo dục huyện, tỉnh Thái Nguyên
--------------------------------------
* Gia phả tộc Dương, cội nguồn tộc Dương, Linh Thông, Linh Tùng, Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên, Cảnh Doanh
Địa chỉ ViDEO xã Huống Thượng :' Youtube.com/canhdoanh ' hoặc từ khóa : ' cội nguồn tộc Dương Linh tùng Huống Thượng Đồng Hỉ-cảnh doanh '.
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Xã Huống Thượng-Những người con quang vinh
8/ Những người con quang vinh
Category: Giáo dục nhân văn, Tag: Huống Thượng Quê Hương Tôi_Nh
10/30/2012 08:09 am
Gia tài của Bố-Những người con quang vinh
Mở đầu cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đất nước với hai nhiệm vụ, hai chiến lược, những con người xã Huống Thượng chuyển sang giai đoạn mới.
Vấn đề cho kế hoạch giáo dục phổ thông: Phổ cập cấp I, giáo viên thiếu, tỉnh huyện bổ nhiệm thêm giáo viên dân lập, hưởng quỹ của tỉnh do ty giáo dục đảm nhiệm. Trường cấp I do ông Trần Tương Như làm hiệu trưởng, có các giáo viên : Ông Uy, ông Tình, ông Nguyên, ông Bình, ông Thâm, ông Vinh, ông Khánh, ông Lượng, ông Bẩy, cô Thái, cô Liễu, cô Tư, cô Phương, cô Lê, cô Truyền. Trường có 15 lớp với 500 học sinh. Các giáo viên chia thành các khối lớp 1, 2, 3, 4, có các hoạt động thi đua cá nhân, kết nghĩa thi đua trong các cụm trường hoặc các trường tỉnh này với tỉnh kia. Học tập trong xã phát triển, ty giáo dục Thái Nguyên cho phép mở trường cấp II phổ thông, cử ông Phạm Văn Tường làm Hiệu Trưởng, có các giáo viên như: Ông Đảng, ông Du, ông Long, ông Hùng, ông Nghĩa, cô Sáng. Năm học 1964-1965 đã có 2 lớp 5, 2 lớp 6, 1 lớp 7 với 190 học sinh. Ban đầu là những ngôi trường bằng tranh tre nứa lá gỗ rạ. Sau được cấp trên chi tiền xây 4 phòng học bằng gạch, lợp ngói, chủ tịch xã là ông Nguyễn Cao Kỳ, kế hoạch tỉnh là ông Khê theo dõi cấp tiền. Hoạt động của trường theo mô hình học tập trường Bắc Lý ( Hà Nam ), có vườn địa lý, có vườn sinh vật, có phòng thí nghiệm sinh, hóa, lý, sân thể dục, hố nhảy xa, xà đơn, xà kép...bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ...để thày và trò hoạt động dạy và học, thực hành vui chơi giải trí. Mô hình này được huyện ủy ( Ông Thơ ), ban hành chính huyện ( Ông Điền ) rất quan tâm. Trường có phong trào thày dạy tốt, trò học giỏi, điển hình có thày : Lã Quý Đảng, học sinh có đội chuyên văn, đội chuyên toán, cá nhân được giải phong trào thể dục, thể thao như học sinh Nguyễn Thị Khương xóm Bầu-Chám về bơi lội. Nhìn chung qua các phong trào thi đua dạy và học, trao đổi kinh nghiệm công tác, trường phổ thông cấp I và cấp II xã Đồng Tiến ( Huống Thượng ) đạt kết quả tốt. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1961-1965 ), trong tổng kết đánh giá cấp Huyện, trường hoạt động đạt mức khá và giỏi.
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai ( 1966-1970 ), các hợp tác xã ( HTX ) từ xóm nhỏ hợp nhất lại thành HTX cấp lớn, phát triển chuyên sâu các dịch vụ, các loại hình văn hóa, văn nghệ hoạt động mạnh, trong ngày hội đón thư khen của chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã tổ chức đội múa Lân Sư, ông Mây múa, ông Khay cầm đuôi, ông Thơ Điển đánh côn, ông Sen Ao múa kiếm làm ngày hội tưng bừng náo nhiệt.
Giáo dục phổ thông, giáo dục phổ cập ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh. Từ năm 1966 đến 1969 học sinh lên tới 560, với 16 lớp, hiệu trưởng là ông Vũ Sinh Hương, các giáo viên như : Ông Uy, ông Tình, ông Viết, cô Lê, cô Chấn, cô Chi, cô Hiền, cô Cúc, cô Mai, cô Thiệp, cô Thư, cô Nhạn, cô Giá, cô Giảng, cô Lập. Ở cấp II, hiệu trưởng là ông Nguyễn Văn Lô, với các giáo viên : Ông Du, ông Đảng, ông Nghĩa, ông Thìn, ông Sơn, ông Lý, ông Tường, ông Bình, ông Tài, cô Nga, cô Châu, cô Xuân, cô Ngọc Anh. Thời gian này máy bay Mĩ bắn phá Miền Bắc ác liệt, nhà trường phải đào hầm, hào và sơ tán, có khi phải đi học đêm, bằng đèn dầu .
-Năm học 1969-1970-1971-1972 số học sinh lên tới 620 với 15 lớp, hiệu trưởng là ông Trần Văn Du, các giáo viên như : Cô Nga, cô Nga ( B ), cô Loan, cô Châu, cô Lộc, cô Xuân, cô Lê, cô Chín, cô Thái, cô Cử, ông Lý, ông Đảng, ông Tài, ông Tích, ông Tường, ông Hùng, ông Bình, cô Nga ( 18 gv ). Mặc dù máy bay Mĩ bán phá ngày đêm song thày trò vẫn bám trường, bám lớp dạy và học tốt, thày có : ông Lã Quý Đảng, cô Nguyễn Thị Nga ; Trò có : Nguyễn Thị Lan, Trần Thị Thuận, Đào Văn Khiêm .
Năm ông Ngô Mạnh Chí làm hiệu trưởng cấp I, học sinh có tới 20 lớp với 780 học sinh. Học sinh miền Hoàng Gia, Na tranh, Đầm cỏ cũng tới học, số giáo viên tăng đông, ông Nghi, ông Hiệp, ông Nguyên, ông Khẩn, ông Nguyên ( B ), cô Mịn, cô Thảo, cô Chi, cô Hiền, cô Dung, cô Năm, cô Tâm, cô Lê, cô Liên, cô Thịnh, cô Nhạn, cô Giảng, cô Lập, cô Hồng, cô Giá, cô Tâm ( 23 gv ). Thày, cô giáo gương mẫu điển hình như : Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Hữu Nghi .
-----------------------------------------( còn nữa )
* Những Người đi xây tình yêu, trí tuệ cho đời như những con ong xây tổ . Những người hiểu biết dẫn dắt những người chưa hiểu biết để rồi họ khôn lớn tiếp tục những công việc cho đời, cho con em họ !
* Dương Đức Cảnh Doanh chỉnh biên từ : ' Gia tài của bố Dương Đức Nguyên, nguyên cán bộ cách mạng giáo dục tỉnh Thái Nguyên và ban nghành các Huyện trong tỉnh )
* Năm Canh Dần ( 2010 )
Mở đầu cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đất nước với hai nhiệm vụ, hai chiến lược, những con người xã Huống Thượng chuyển sang giai đoạn mới.
Vấn đề cho kế hoạch giáo dục phổ thông: Phổ cập cấp I, giáo viên thiếu, tỉnh huyện bổ nhiệm thêm giáo viên dân lập, hưởng quỹ của tỉnh do ty giáo dục đảm nhiệm. Trường cấp I do ông Trần Tương Như làm hiệu trưởng, có các giáo viên : Ông Uy, ông Tình, ông Nguyên, ông Bình, ông Thâm, ông Vinh, ông Khánh, ông Lượng, ông Bẩy, cô Thái, cô Liễu, cô Tư, cô Phương, cô Lê, cô Truyền. Trường có 15 lớp với 500 học sinh. Các giáo viên chia thành các khối lớp 1, 2, 3, 4, có các hoạt động thi đua cá nhân, kết nghĩa thi đua trong các cụm trường hoặc các trường tỉnh này với tỉnh kia. Học tập trong xã phát triển, ty giáo dục Thái Nguyên cho phép mở trường cấp II phổ thông, cử ông Phạm Văn Tường làm Hiệu Trưởng, có các giáo viên như: Ông Đảng, ông Du, ông Long, ông Hùng, ông Nghĩa, cô Sáng. Năm học 1964-1965 đã có 2 lớp 5, 2 lớp 6, 1 lớp 7 với 190 học sinh. Ban đầu là những ngôi trường bằng tranh tre nứa lá gỗ rạ. Sau được cấp trên chi tiền xây 4 phòng học bằng gạch, lợp ngói, chủ tịch xã là ông Nguyễn Cao Kỳ, kế hoạch tỉnh là ông Khê theo dõi cấp tiền. Hoạt động của trường theo mô hình học tập trường Bắc Lý ( Hà Nam ), có vườn địa lý, có vườn sinh vật, có phòng thí nghiệm sinh, hóa, lý, sân thể dục, hố nhảy xa, xà đơn, xà kép...bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ...để thày và trò hoạt động dạy và học, thực hành vui chơi giải trí. Mô hình này được huyện ủy ( Ông Thơ ), ban hành chính huyện ( Ông Điền ) rất quan tâm. Trường có phong trào thày dạy tốt, trò học giỏi, điển hình có thày : Lã Quý Đảng, học sinh có đội chuyên văn, đội chuyên toán, cá nhân được giải phong trào thể dục, thể thao như học sinh Nguyễn Thị Khương xóm Bầu-Chám về bơi lội. Nhìn chung qua các phong trào thi đua dạy và học, trao đổi kinh nghiệm công tác, trường phổ thông cấp I và cấp II xã Đồng Tiến ( Huống Thượng ) đạt kết quả tốt. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( 1961-1965 ), trong tổng kết đánh giá cấp Huyện, trường hoạt động đạt mức khá và giỏi.
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai ( 1966-1970 ), các hợp tác xã ( HTX ) từ xóm nhỏ hợp nhất lại thành HTX cấp lớn, phát triển chuyên sâu các dịch vụ, các loại hình văn hóa, văn nghệ hoạt động mạnh, trong ngày hội đón thư khen của chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã tổ chức đội múa Lân Sư, ông Mây múa, ông Khay cầm đuôi, ông Thơ Điển đánh côn, ông Sen Ao múa kiếm làm ngày hội tưng bừng náo nhiệt.
Giáo dục phổ thông, giáo dục phổ cập ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh. Từ năm 1966 đến 1969 học sinh lên tới 560, với 16 lớp, hiệu trưởng là ông Vũ Sinh Hương, các giáo viên như : Ông Uy, ông Tình, ông Viết, cô Lê, cô Chấn, cô Chi, cô Hiền, cô Cúc, cô Mai, cô Thiệp, cô Thư, cô Nhạn, cô Giá, cô Giảng, cô Lập. Ở cấp II, hiệu trưởng là ông Nguyễn Văn Lô, với các giáo viên : Ông Du, ông Đảng, ông Nghĩa, ông Thìn, ông Sơn, ông Lý, ông Tường, ông Bình, ông Tài, cô Nga, cô Châu, cô Xuân, cô Ngọc Anh. Thời gian này máy bay Mĩ bắn phá Miền Bắc ác liệt, nhà trường phải đào hầm, hào và sơ tán, có khi phải đi học đêm, bằng đèn dầu .
-Năm học 1969-1970-1971-1972 số học sinh lên tới 620 với 15 lớp, hiệu trưởng là ông Trần Văn Du, các giáo viên như : Cô Nga, cô Nga ( B ), cô Loan, cô Châu, cô Lộc, cô Xuân, cô Lê, cô Chín, cô Thái, cô Cử, ông Lý, ông Đảng, ông Tài, ông Tích, ông Tường, ông Hùng, ông Bình, cô Nga ( 18 gv ). Mặc dù máy bay Mĩ bán phá ngày đêm song thày trò vẫn bám trường, bám lớp dạy và học tốt, thày có : ông Lã Quý Đảng, cô Nguyễn Thị Nga ; Trò có : Nguyễn Thị Lan, Trần Thị Thuận, Đào Văn Khiêm .
Năm ông Ngô Mạnh Chí làm hiệu trưởng cấp I, học sinh có tới 20 lớp với 780 học sinh. Học sinh miền Hoàng Gia, Na tranh, Đầm cỏ cũng tới học, số giáo viên tăng đông, ông Nghi, ông Hiệp, ông Nguyên, ông Khẩn, ông Nguyên ( B ), cô Mịn, cô Thảo, cô Chi, cô Hiền, cô Dung, cô Năm, cô Tâm, cô Lê, cô Liên, cô Thịnh, cô Nhạn, cô Giảng, cô Lập, cô Hồng, cô Giá, cô Tâm ( 23 gv ). Thày, cô giáo gương mẫu điển hình như : Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Nguyễn Hữu Nghi .
-----------------------------------------( còn nữa )
* Những Người đi xây tình yêu, trí tuệ cho đời như những con ong xây tổ . Những người hiểu biết dẫn dắt những người chưa hiểu biết để rồi họ khôn lớn tiếp tục những công việc cho đời, cho con em họ !
* Dương Đức Cảnh Doanh chỉnh biên từ : ' Gia tài của bố Dương Đức Nguyên, nguyên cán bộ cách mạng giáo dục tỉnh Thái Nguyên và ban nghành các Huyện trong tỉnh )
* Năm Canh Dần ( 2010 )
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Xã Huống Thượng-Những người con Trí tuệ ( tiêp theo )
Gia tài của bố_ Những người con trí tuệ ( tiếp theo )
Category: Tâm lí giáo dục, Tag: Gia tài của bốHuống Thượng quê
10/24/2012 08:18 am
---Những người con trí tuệ ( tiếp theo )
Trong kháng chiến chống Pháp ( 1946-1955 ), ty giáo dục mở trại hè bồi dưỡng tư tưởng chính trị và nghiệp vụ cho giáo viên toàn tỉnh . Trại giáo dục thu đông 1946 mở tại xã Bá Sơn, huyện Phú Lương, bồi dưỡng cho giáo viên tiểu học về giảng dạy chuyên môn và tư tưởng chính trị, do trưởng ty là cụ Đỗ Ngọc và cụ Đào Trọng Dậu hướng dẫn, một bài thơ trong báo đặc san của trại giáo dục :
A, ta nhớ Bá Sơn bên đồi dòng suối mát
Nhớ Bá Sơn bát ngát núi cùng ngàn
Đem về đây tô điểm cho giang san
Trại giáo dục của đoàn quân văn hóa
Ta đoái tưởng nhớ bên bờ khe đá
Tiếng ca vang như muốn xé trời mây
Nhớ làng văn đem tư tưởng đắp xây
Nền giáo dục của ngày mai tươi sáng.
-Năm 1953, tỉnh mở lớp chỉnh huấn cho cán bộ, công nhân viên khóa I, chỉnh đảng khóa II, các giáo viên trong trường được Ty giáo dục cử lần lượt đi học .
-Chiến thắng quân Pháp ở Việt Bắc, thu đông năm 1947; Ngày mồng 7 tháng 10 năm đó, Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên ( tại Đồng Bẩm, Làng Sòng, Làng Ngò, Cổ Lũng, Phấn Mễ... ), sau chiến sự xảy ra, các giáo viên được họp và nghe thời sự, trấn an tư tưởng, nâng cao ý chí chiến đấu. Chiến thắng biên giới Việt Trung năm 1950 ( Đông Khê 16/9/1950 ), kết thúc ngày 17 tháng 10 năm 1950. Tư tưởng cách mạng lại được nâng cao .
-Ngày 29 tháng 9 năm 1950, Pháp lại nhảy dù xuống Thái Nguyên ( tại sân bay Đồng Bẩm ), đến 10 tháng 10 thì rút khỏi thị xã, khai thông đường số 3, đón cánh quân ở thị xã Bắc Kạn về Cầu Đuống. Xã Đồng Tiến ( Huống Thượng ), cũng như trường học bị 2 lần giặc tràn qua bắn giết, đốt phá, như nhà của cụ Nguyễn Văn Hợp ở xóm Huống Trung vào năm 1947, người bị bắt như ông Lộc, ông Ki..., bắn chết ông phó Hai, ông Phúc, anh Đoan, anh Thái, anh Bấc....Pháp đi rồi, lớp học lại tiến hành bình thường .
-Sau chiến dịch trung du tháng 1 năm 1951, Hà Nam Ninh tháng 5 năm 1951; Việt Minh phá địch ở đường số 6, sông Đà và đồng bằng Bắc Bộ phá Tề....Thu Đông 1952, Việt Minh giải phóng miền Tây Bắc, thắng lợi về chính trị, đại hội đại biểu Đảng lao động Việt Nam họp, thành lập khối liên minh Việt-Miên-Lào, lập ngân hàng, tiêu tiền mới, trao đổi mậu dịch, chính sách công-nông-lâm-thương được thi hành .Trong vấn đề lịch sử đất nước như vậy, giáo dục nói chung, giáo dục xã Huống Thượng ngày càng được củng cố và phát triển. Văn hóa-giáo dục, các con em được tuyển lựa và gửi ra nước ngoài học tập, đào tạo nghề .
Trong không khí thắng lợi ấy, xã Đồng Tiến cũng được mở trường cấp II từ năm học 1953-1954-1955, đã có tới 5 lớp với 225 học sinh, hiệu trưởng là ông Nguyễn Đình Đại, giáo viên như ông Phạm Văn Tường, ông Nguyễn Văn Phúc. Cấp I, ba phân trường dạy lớp ghép ( 1 phân trường Huống Thượng dạy tách lớp ), tổng số học sinh đã có tới 350 học sinh.Như vậy trường cấp I, II đã lên tới 15 lớp với 575 học sinh.
-Đông-Xuân năm 1953-1954, Pháp xây dựng căn cứ quân sự lòng chảo Điện Biên, tháng 5 năm 1954 Việt Minh giải phóng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại, giới tuyến 17 tạm thời được ký kết, Pháp rút khỏi Hải Phòng ngày 19 tháng 5 năm 1954. Tinh thần học tập của con em nhân dân trong xã Huống Thượng lại hồ hởi, phấn khởi hơn bao giờ hết.Trường Đồng Tiến ( Huống Thượng ), ngay năm học 1953-1954 còn hai phân trường dạy lớp ghép, một phân trường dạy tách lớp, có 12 lớp với 400 học sinh.
-Năm 1955-1957, đi vào khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền, các đoàn thể đi vào hoạt động như : Ca, kịch, múa, hát ....học sinh trong trường học cũng nô nức phấn khởi học tập và ca múa hát do các thày cô hướng dẫn. Thời gian này ông giáo Thụ làm Hiệu Trưởng, các lớp học sơ tán được tập trung về đồi chùa Kim Hoa, và còn vận động được cụ sư Đàm Hinh ở chùa Phú Nông ủng hộ nhà trường dựng cho 1 lớp học. Sau đó cắt phân trường Linh Sơn thành lập trường mới. Lớp học tại Huống có 14 lớp với 450 học sinh, các thày cô giáo cũng được tăng thêm .
-Bình dân học vụ và bổ túc văn hóa ở các xóm, mọi người tham gia đông vui, các giáo viên xuống các xóm tham gia công tác hoặc người có năng lực kiến thức tham gia giảng dạy tại chỗ .
-Phong trào tổ đổi công, hợp tác xã ( HTX ) được xây dựng cũng làm đà cho sự phát triển giáo dục trong xã, người lớn đi học, trẻ con đi học, mọi người đua nhau đi học, tổ giữ trẻ, lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng được mở ra ngay tại các xóm, HTX trả lương bằng công điểm, thóc, thực phẩm....
Mở đầu cho kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đất nước với hai nhiệm vụ, hai chiến lược, những con người xã Huống Thượng chuyển sang giai đoạn mới.
( tư liệu : Gia tài của bố-Dương Đức Nguyên, nguyên trong ban chỉ đạo giáo dục từ 1945 và là giáo viên của huyện Đồng Hỉ, Huống Thượng )
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh-huyền huyền tôn tộc Dương Linh Thông,Huống Thượng, Đồng Hỉ, Thái Nguyên
Năm Canh Dần ( 2010 )
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Xã Huống Thượng-Những người con Trí tuệ
Huống Thượng Quê Hương Tôi _ Những người con trí tuệ
Category: Tâm lí giáo dục, Tag: Huống Thượng Quê Hương Tôi_Nh
10/22/2012 03:32 pm
( 6/ Những người con hiếu học, đã viết đăng )
7/ Những người con trí tuệ
Tháng 8 năm 1945, Huống Thượng bầu UBND lâm thời, đổi tên là xã Phương Thượng, tổng Đồng Hỉ....Ban văn hóa giáo dục cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của ban văn hóa huyện Đồng Hỉ ( trưởng ban là bà Vi Vân Lâm, phó ban là ông Nguyễn Khiết Trực, thư ký là ông Phạm Trần Lạm ), chủ yếu vận động toàn dân đi học chữ quốc ngữ ( bình dân học vụ ) để biết đọc, biết viết và làm tính .
Ban văn hóa xã gồm có trưởng ban, phó ban, thư ký và nhiều ủy viên chịu trách nhiệm ở các tiểu ban như : Tiểu ban tổ chức, tiểu ban cổ động, tiểu ban học cụ; Mở lớp học tại trung tâm trường ngói xóm Hóc và rộng khắp 10 xóm . Anh em trong đoàn thanh niên cứu quốc cũng đều tham gia trong các ban để thực hiện nhiệm vụ . Chính quyền xã mở lớp học cho thiếu nhi, nhi đồng vào buổi trưa, lớp dạy cho nông dân, dạy cho phụ nữ, dạy cho các cụ cao niên, người người đi học, nhà nhà đi học, cuối năm 1945 đã có tới nghìn người biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ . Tùy theo tình hình điều kiện, các lớp còn lại học vào buổi tối, học viên mang đèn, sách, phấn, bảng để đi học . Ngoài ra Ban còn động viên tinh thần ham học trong dân, tiểu ban cổ động phối hợp với đoàn thanh niên, nam, nữ buổi tối biểu diễn ca, kịch, múa, hát . Buổi đầu cách mạng, nhân dân nô nức, phấn khởi, say mê học tập .
Xã Huống Thượng được sự chú ý, quan tâm của UBND tỉnh, ty thanh tra tiểu học cử cụ giáo Đào Văn Bẩy, quê Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên về xã làm hiệu trưởng trường phổ thông tiểu học Đồng Tiến, chỉ đạo 3 phân trường : Huống Thượng, Huống Trung, Linh Sơn . Các giáo viên cộng tác với cụ là ông Tạ Văn Khuê, Trần Văn Khuê, Dương Đức Nguyên và ông Lê Văn Trọng . Niên học 1946-1947, 3 phân trường dạy ghép bán cấp ( 1,2,3 ), năm sau tại Huống Thượng có mở lớp nhì B, nhì A, lớp nhất tiểu học. Hội đồng nhà trường gồm hiệu trưởng và giáo viên; Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, một giáo viên phụ trách chính trị, thời sự ( ông Tạ Văn Khuê ), một giáo viên tìm soạn các bài học về tự nhiên ( ông Trần Văn Khuê ), một giáo viên tìm soạn các bài học về xã hội ( ông Dương Đức Nguyên ), một giáo viên tìm soạn bài học các môn khác ( ông Lê Văn Trọng ), hoạt động theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ty thanh tra tiểu học. Hàng tuần 1,2,3 hội đồng trao đổi thống nhất bài giảng trong tuần và cả tháng. Tuần 4 học tập, trao đổi về chính trị thời cuộc. Khi tin Đác-Giăng-li-Ơ triệt hồi, Bô-La thay, đã có giáo viên cảm tác bài thơ :
Ví phỏng rằng mi chẳng triệt hồi,
Thì sao tránh khỏi chiếc đầu rơi,
Há khinh khí phách người dân Việt,
Sao nhãng đường tu đạo chúa trời,
Một tháng gian lao ôi hú vía,
Bao năm tu luyện cũng đi đời,
Mi về ta nhắn vài lời nhé!
Tướng mạnh nào sang cũng thế thôi.
Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1948, nhà nước Việt Nam cải cách giáo dục, cải tổ lại thành hệ thống giáo dục 9 năm ( cấp I : Lớp 1,2,3,4; cấp II : Lớp 5,6,7; cấp III : Lớp 8,9 ), nội dung thiết thực phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân, phục vụ kháng chiến lâu dài, BTVH cũng phát triển mạnh, đến năm 1949 đã có tới 10 triệu người thoát nạn mù chữ.
-Mùa hè 1949, ty giáo dục, ban bình dân học vụ tỉnh Thái Nguyên mở hội nghị rèn cán chỉnh cơ tại xã Úc Kỳ huyện Phú Bình. Trong năm học 1949-1950, các trường học trong toàn tỉnh dạy theo chương trình mới, trường Đồng Tiến ( Huống Thượng ), 3 phân trường dạy ghép ( 1,2,3 ), có 10 lớp với 200 học sinh.
-Năm học 1951-1952-1953, 3 phân trường, nơi thì dạy ghép; Nơi thì dạy tách, có tới 10 lớp với hơn 350 học sinh.
-Năm học 1953-1954, các phân trường ghép 1,2 hay 3,4 của Huống Thượng đông học sinh nên giáo viên dạy tách lớp, thời điểm này phát triển tới 12 lớp với 450 học sinh, khi học sinh tăng, có nhiều lớp thì giáo viên cũng được cấp trên bổ nhiệm tăng thêm, từ năm học 1948 giáo viên tới xã có : ông Nguyễn Văn Thụ, bà Nguyễn Thị Phương, bà Nguyễn Thị Thảo, ông Ngô Quang Toản, ông Trần Tương Như, ông Đinh Văn Y, ngày thứ 5 trong tuần hàng tháng các giáo viên họp mặt để thảo luận soạn bài, trao đổi thống nhất bài giảng dạy cho học sinh, cụ giáo Bẩy đã soạn một bài học thuộc lòng như sau :
Em có vườn cà chua,
Quả hồng đỏ đẹp quá,
Hoa vàng chen giữa lá,
Vàng đỏ tựa màu cờ,
Càng nhìn màu sắc càng ưa,
Càng vui tích cực tăng gia vun trồng.
( Còn tiếp )
( Tư liệu từ : Gia tài của bố-Dương Đức Nguyên, nguyên là giáo viên của huyện Đồng Hỉ, Thái Nguyên )
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh-huyền huyền tôn tộc Dương, xóm Thông, Huống Thượng.
7/ Những người con trí tuệ
Tháng 8 năm 1945, Huống Thượng bầu UBND lâm thời, đổi tên là xã Phương Thượng, tổng Đồng Hỉ....Ban văn hóa giáo dục cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của ban văn hóa huyện Đồng Hỉ ( trưởng ban là bà Vi Vân Lâm, phó ban là ông Nguyễn Khiết Trực, thư ký là ông Phạm Trần Lạm ), chủ yếu vận động toàn dân đi học chữ quốc ngữ ( bình dân học vụ ) để biết đọc, biết viết và làm tính .
Ban văn hóa xã gồm có trưởng ban, phó ban, thư ký và nhiều ủy viên chịu trách nhiệm ở các tiểu ban như : Tiểu ban tổ chức, tiểu ban cổ động, tiểu ban học cụ; Mở lớp học tại trung tâm trường ngói xóm Hóc và rộng khắp 10 xóm . Anh em trong đoàn thanh niên cứu quốc cũng đều tham gia trong các ban để thực hiện nhiệm vụ . Chính quyền xã mở lớp học cho thiếu nhi, nhi đồng vào buổi trưa, lớp dạy cho nông dân, dạy cho phụ nữ, dạy cho các cụ cao niên, người người đi học, nhà nhà đi học, cuối năm 1945 đã có tới nghìn người biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ . Tùy theo tình hình điều kiện, các lớp còn lại học vào buổi tối, học viên mang đèn, sách, phấn, bảng để đi học . Ngoài ra Ban còn động viên tinh thần ham học trong dân, tiểu ban cổ động phối hợp với đoàn thanh niên, nam, nữ buổi tối biểu diễn ca, kịch, múa, hát . Buổi đầu cách mạng, nhân dân nô nức, phấn khởi, say mê học tập .
Xã Huống Thượng được sự chú ý, quan tâm của UBND tỉnh, ty thanh tra tiểu học cử cụ giáo Đào Văn Bẩy, quê Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên về xã làm hiệu trưởng trường phổ thông tiểu học Đồng Tiến, chỉ đạo 3 phân trường : Huống Thượng, Huống Trung, Linh Sơn . Các giáo viên cộng tác với cụ là ông Tạ Văn Khuê, Trần Văn Khuê, Dương Đức Nguyên và ông Lê Văn Trọng . Niên học 1946-1947, 3 phân trường dạy ghép bán cấp ( 1,2,3 ), năm sau tại Huống Thượng có mở lớp nhì B, nhì A, lớp nhất tiểu học. Hội đồng nhà trường gồm hiệu trưởng và giáo viên; Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, một giáo viên phụ trách chính trị, thời sự ( ông Tạ Văn Khuê ), một giáo viên tìm soạn các bài học về tự nhiên ( ông Trần Văn Khuê ), một giáo viên tìm soạn các bài học về xã hội ( ông Dương Đức Nguyên ), một giáo viên tìm soạn bài học các môn khác ( ông Lê Văn Trọng ), hoạt động theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ty thanh tra tiểu học. Hàng tuần 1,2,3 hội đồng trao đổi thống nhất bài giảng trong tuần và cả tháng. Tuần 4 học tập, trao đổi về chính trị thời cuộc. Khi tin Đác-Giăng-li-Ơ triệt hồi, Bô-La thay, đã có giáo viên cảm tác bài thơ :
Ví phỏng rằng mi chẳng triệt hồi,
Thì sao tránh khỏi chiếc đầu rơi,
Há khinh khí phách người dân Việt,
Sao nhãng đường tu đạo chúa trời,
Một tháng gian lao ôi hú vía,
Bao năm tu luyện cũng đi đời,
Mi về ta nhắn vài lời nhé!
Tướng mạnh nào sang cũng thế thôi.
Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1948, nhà nước Việt Nam cải cách giáo dục, cải tổ lại thành hệ thống giáo dục 9 năm ( cấp I : Lớp 1,2,3,4; cấp II : Lớp 5,6,7; cấp III : Lớp 8,9 ), nội dung thiết thực phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân, phục vụ kháng chiến lâu dài, BTVH cũng phát triển mạnh, đến năm 1949 đã có tới 10 triệu người thoát nạn mù chữ.
-Mùa hè 1949, ty giáo dục, ban bình dân học vụ tỉnh Thái Nguyên mở hội nghị rèn cán chỉnh cơ tại xã Úc Kỳ huyện Phú Bình. Trong năm học 1949-1950, các trường học trong toàn tỉnh dạy theo chương trình mới, trường Đồng Tiến ( Huống Thượng ), 3 phân trường dạy ghép ( 1,2,3 ), có 10 lớp với 200 học sinh.
-Năm học 1951-1952-1953, 3 phân trường, nơi thì dạy ghép; Nơi thì dạy tách, có tới 10 lớp với hơn 350 học sinh.
-Năm học 1953-1954, các phân trường ghép 1,2 hay 3,4 của Huống Thượng đông học sinh nên giáo viên dạy tách lớp, thời điểm này phát triển tới 12 lớp với 450 học sinh, khi học sinh tăng, có nhiều lớp thì giáo viên cũng được cấp trên bổ nhiệm tăng thêm, từ năm học 1948 giáo viên tới xã có : ông Nguyễn Văn Thụ, bà Nguyễn Thị Phương, bà Nguyễn Thị Thảo, ông Ngô Quang Toản, ông Trần Tương Như, ông Đinh Văn Y, ngày thứ 5 trong tuần hàng tháng các giáo viên họp mặt để thảo luận soạn bài, trao đổi thống nhất bài giảng dạy cho học sinh, cụ giáo Bẩy đã soạn một bài học thuộc lòng như sau :
Em có vườn cà chua,
Quả hồng đỏ đẹp quá,
Hoa vàng chen giữa lá,
Vàng đỏ tựa màu cờ,
Càng nhìn màu sắc càng ưa,
Càng vui tích cực tăng gia vun trồng.
( Còn tiếp )
( Tư liệu từ : Gia tài của bố-Dương Đức Nguyên, nguyên là giáo viên của huyện Đồng Hỉ, Thái Nguyên )
Chỉnh biên : Dương Đức Cảnh Doanh-huyền huyền tôn tộc Dương, xóm Thông, Huống Thượng.
Nhãn:
Anh em,
Cảnh Doanh,
Chúng ta,
Cội nguồn tộc Dương,
Đồng Hỉ,
Họ Dương,
Huống Thượng,
Quê hương tôi,
Tân Phú,
Tân Thành,
Thái Nguyên,
Tộc Dương
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)